Tín dụng bám sát khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế
Năm 2025 đang dần khép lại, ghi dấu một giai đoạn Việt Nam hoàn thành phần lớn các mục tiêu kinh tế vĩ mô đề ra, từ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát đến nhiều chỉ tiêu quan trọng khác. Đặc biệt điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng chủ động, linh hoạt bám sát khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Tăng cường giải pháp tín dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu đề ra.

BIDV giao dịch khách hàng. Ảnh Trọng Triết
Theo Báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, kết quả tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 11/2025, tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với cuối năm 2024 (cùng kỳ năm 2024 tăng 11,47% so với cuối năm 2023; cả năm 2024 tăng 15,09%). Thanh khoản hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) được đảm bảo, thị trường tiền tệ cơ bản ổn định, tỷ giá diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường. Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục ổn định và có xu hướng giảm. Cơ cấu tín dụng chuyển dịch phù hợp với cơ cấu các ngành kinh tế. Tín dụng hướng mạnh vào lĩnh vực ưu tiên, một số lĩnh vực chiếm tỷ lệ lớn, như: lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (chiếm 23%) và doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm 19%); tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân giai đoạn vừa qua tăng lần lượt là 17,51% và 19,91%.
Đồng thời, cùng với các nguồn vốn khác, tín dụng ngân hàng đã cung ứng nguồn tài chính thiết yếu để triển khai nhiều dự án, công trình trọng điểm, góp phần thực hiện một trong ba đột phá chiến lược của Đảng về phát triển hạ tầng.
Điểm đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã tích cực triển khai chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do các nguyên nhân khách quan như dịch bệnh, thiên tai hay khó khăn trong sản xuất, kinh doanh cho khoảng 1,3 triệu khách hàng được cơ cấu nợ với giá trị nợ gốc và lãi khoảng 1 triệu tỷ đồng.
Ngoài ra, các chương trình tín dụng theo ngành, lĩnh vực tiếp tục được đẩy mạnh rất hiệu quả và được điều chỉnh tăng quy mô phù hợp như chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản hiện đạt quy mô 185 nghìn tỷ đồng (4 lần nâng quy mô) với tỷ lệ giải ngân khoảng 94%, hay chương trình cho vay liên kết lúa gạo theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg đến cuối tháng 10/2025 doanh số giải ngân lũy kế đạt gần 3.000 tỷ đồng trong vòng 5 tháng.
Riêng chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được triển khai sâu rộng đến nay đã có khoảng 1.800 buổi gặp gỡ, đối thoại, kết nối ngân hàng – doanh nghiệp được tổ chức qua đó kịp thời có những định hướng chỉ đạo điều hành và triển khai các giải pháp phù hợp với nhu cầu, tình hình thực tế của ngân hàng, doanh nghiệp, nền kinh tế.
Cửa rộng cho tín dụng bứt phá trong năm 2026
“Cơn lốc” tín dụng thực sự sẽ đổ bộ vào năm 2026, khi các dự án trọng điểm quốc gia về giao thông, hạ tầng, điện và công nghệ chiến lược đồng loạt bước vào giai đoạn giải ngân lớn.
Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản số 10825/NHNN-TD, hướng dẫn triển khai chương trình tín dụng đầu tư vào 4 trụ cột: hạ tầng điện, giao thông, hạ tầng số và công nghệ chiến lược để thực hiện gói tín dụng quy mô 500.000 tỷ đồng, với sự tham gia của 23 ngân hàng thương mại. Lãi suất cho vay ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1% - 1,5%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng cho vay.

Agribank chăm sóc khách hàng cao tuổi. Ảnh Trọng Triết
Với sự tham gia của ngân hàng Agribank tiên phong với gói 60.000 tỷ đồng cùng mức ưu đãi lãi suất lên tới 1,5%/năm. Ngân hàng HDBank với 20.000 tỷ đồng lãi suất chỉ từ 6%/năm. Tiếp theo là các ngân hàng: Vietcombank, VietinBank, BIDV, MB, Techcombank, TPBank… cũng đã sẵn sàng nguồn lực.
Sự vào cuộc đồng bộ không chỉ là giải ngân vốn, mà là một sự chuyển dịch chiến lược của hệ thống ngân hàng thâm nhập sâu vào các dự án mang tính “xương sống” của quốc gia tạo động lực tăng trưởng kinh tế.
Năm 2026 sẽ là cột mốc quan trọng khi nhu cầu vốn cho kết cấu hạ tầng giao thông giai đoạn 2026 - 2030 ước tính lên tới gần 3 triệu tỷ đồng. Theo danh mục từ Bộ Xây dựng, hàng loạt siêu dự án PPP (hợp tác công - tư) và tư nhân đầu tư sẽ “rộng cửa” vay vốn.
Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viên Ngân hàng nêu quan điểm: “Điểm mới nhất của làn sóng tín dụng 2026 chính là sự thay đổi trong cách nhìn nhận của các ngân hàng. Trước đây, BOT hay hạ tầng thường bị xếp vào nhóm rủi ro do đọng vốn. Nhưng nay, với sự quyết liệt từ Chính phủ và việc rút ngắn thủ tục đầu tư công, rủi ro đã giảm đáng kể”.
Dù triển vọng rất tươi sáng, nhưng để tín dụng năm 2026 thực sự không gây hệ lụy, PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh đã nêu các giải pháp gồm:
Một là, bài toán “lấy ngắn nuôi dài”, cảnh báo khi 80 - 90% vốn huy động của ngân hàng là ngắn hạn, việc cho vay hạ tầng dài hạn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản. Chính vì vậy, cần có các cơ chế tái cấp vốn hoặc thị trường vốn dài hạn bổ trợ.
Hai là, xem xét gỡ bỏ hạn mức tăng trưởng tín dụng (room tín dụng) từ năm 2026. Việc này sẽ tạo dư địa linh hoạt để các TCTD có thể giải ngân hàng nghìn tỷ đồng vào các đại dự án mà không lo chạm “trần”.
Ba là, cơ chế pháp lý cho các dự án BOT, BT phải thực sự rõ ràng, minh bạch để tránh “vết xe đổ” của những giai đoạn trước.
Dự báo từ năm 2026, mỗi năm sẽ có ít nhất 8 - 10 tỷ USD được rót vào nền kinh tế thông qua các đại dự án. Với sự sẵn sàng của 23 ngân hàng và gói tín dụng 500.000 tỷ đồng, dòng vốn này sẽ như những “huyết mạch vốn” khỏe mạnh chảy vào các lĩnh vực then chốt.
Tín dụng năm 2026 không chỉ là những con số tăng trưởng trên bảng cân đối kế toán, mà là những nhịp cầu, những nhà máy chip, những đường dây tải điện xuyên quốc gia. Đó là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nước ta trong trung và dài hạn, đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới./.
Bình luận bài viết