Đó là trường hợp công trình tại lô BT-BT25-3, Khu quy hoạch dân cư số 5, phường 4 cũ, TP Đà Lạt, nay thuộc địa bàn phường Xuân Hương.

Công trình của bà Nguyễn Thị Kim Thư tại lô BT-BT25-3, Khu quy hoạch dân cư số 5, Phường 4 cũ, TP Đà Lạt là trường hợp đã bị cơ quan chức năng xử phạt do tổ chức thi công xây dựng sai nội dung giấy phép được cấp.
Từ một tầng xây vượt phép đến yêu cầu tháo dỡ
Theo hồ sơ được cung cấp, ngày 26/5/2025, Chủ tịch UBND TP Đà Lạt ban hành Quyết định số 1595/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Nguyễn Thị Kim Thư, sinh năm 1952. Giấy phép xây dựng số 1299/GPXD cho phép công trình có quy mô 1 bán hầm, 1 tầng trệt và 2 tầng lầu, với tổng diện tích sàn 661,5m². Tuy nhiên, hồ sơ xử lý xác định công trình thực tế được xây dựng thành 1 bán hầm, 1 tầng trệt và 3 tầng lầu, tức phát sinh thêm một tầng so với giấy phép. Ngoài ra còn có các vị trí trụ, tường bao và sàn bê tông cốt thép được xây dựng không đúng nội dung giấy phép.
Với những vi phạm được xác định, bà Thư bị xử phạt 17,5 triệu đồng và phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với phần công trình vi phạm. Đây là hai nghĩa vụ cần được phân biệt rõ: nộp tiền phạt và khắc phục hậu quả.
Theo Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính, bên cạnh hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể phải thực hiện một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả. Điều 30 của Luật này quy định trường hợp xây dựng công trình, phần công trình không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng giấy phép thì phải tháo dỡ; nếu không tự nguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế theo quy định. Vì vậy, việc đã nộp tiền phạt không thể tự nó được xem là đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ khắc phục hậu quả.
Biên bản phúc tra và hiện trạng tháng 7/2026
Theo hồ sơ, ngày 1/8/2025, bà Nguyễn Thị Kim Thư có đơn đề nghị phúc tra, cho biết đã thực hiện nghĩa vụ nộp phạt và cho rằng đã tháo dỡ những phần sai phạm, đồng thời đề nghị chính quyền địa phương kiểm tra lại. Đến ngày 2/2/2026, việc phúc tra được thực hiện. Biên bản do ông Phạm Văn Thế, chuyên viên Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Xuân Hương - Đà Lạt lập lúc 9 giờ ngày 2/2/2026 ghi nhận nội dung đáng chú ý: “việc nộp phạt và biện pháp khắc phục hậu quả là tháo dỡ công trình vi phạm đã được bà Nguyễn Thị Kim Thư chấp hành”.
Tuy nhiên, theo tài liệu, hình ảnh được ghi nhận tại công trình vào khoảng 11 giờ 40 đến 11 giờ 42 ngày 23/7/2026 cho thấy, công trình vẫn tồn tại với quy mô lớn, nhiều tầng, cùng hệ thống ban công, mái, tường và các kết cấu xây dựng kiên cố. Đáng chú ý, hồ sơ hiện có chưa đủ căn cứ để khẳng định toàn bộ phần xây dựng sai phép thuộc diện phải khắc phục đã được tháo dỡ hoàn tất. Đây chính là điểm cần được kiểm tra bằng chuyên môn, thay vì chỉ nhìn nhận bằng cảm quan.
Bởi một công trình vẫn còn tồn tại với hình dáng nhiều tầng không đồng nghĩa toàn bộ phần vi phạm chắc chắn chưa được tháo dỡ. Nhưng ngược lại, một biên bản ghi nhận “đã chấp hành tháo dỡ” cũng chưa đủ để chứng minh toàn bộ phần phải tháo dỡ đã được xử lý nếu hồ sơ không thể hiện rõ khối lượng, vị trí và kết quả đo đạc sau khắc phục.
Nói cách khác, điều cần xác định không phải là “công trình còn hay không”, mà là phần nào của công trình thuộc diện vi phạm đã được tháo dỡ, tháo dỡ đến đâu và hiện trạng sau tháo dỡ có phù hợp với giấy phép hay không.
Xử lý vi phạm phải đi đến cùng
Trong xử lý vi phạm trật tự xây dựng, điều quan trọng cuối cùng phải là hiện trạng phù hợp với quyết định xử lý và giấy phép xây dựng được cấp. Hồ sơ hiện có cho thấy biên bản phúc tra ngày 2/2/2026 ghi nhận chủ công trình đã chấp hành tháo dỡ. Tuy nhiên, tài liệu phóng viên tiếp cận chưa thể hiện cụ thể khối lượng đã tháo dỡ, từng hạng mục được khắc phục hoặc kết quả đo đạc, đối chiếu sau tháo dỡ. Khoảng cách giữa hai thông tin này cần được lấp đầy bằng một cuộc kiểm tra thực tế. Cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có thể đối chiếu bốn nhóm tài liệu: giấy phép xây dựng và bản vẽ được duyệt; Quyết định xử phạt số 1595/QĐ-XPHC; Biên bản phúc tra ngày 2/2/2026; và hiện trạng công trình được kiểm tra tại thời điểm hiện nay.
Nếu kết quả đo đạc cho thấy phần công trình thuộc diện phải tháo dỡ vẫn còn tồn tại, vấn đề tiếp theo là phải xác định trách nhiệm thực hiện quyết định xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo đúng quy định.
Nếu phần vi phạm đã thực sự được tháo dỡ, cơ quan chức năng cũng cần có căn cứ chuyên môn để chứng minh điều đó, tránh để một khoảng trống thông tin kéo dài làm phát sinh những nghi vấn không cần thiết.
Điều đáng quan tâm nhất trong vụ việc này không phải là số tiền phạt 17,5 triệu đồng. Điều đáng quan tâm là một quyết định hành chính đã được ban hành thì phải được thực hiện đầy đủ. Nếu quyết định yêu cầu tháo dỡ phần xây dựng vi phạm, kết quả cuối cùng phải được xác định bằng hiện trạng thực tế, có đo đạc và đối chiếu cụ thể.
Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng nghiêm cấm việc không áp dụng, áp dụng không đầy đủ hoặc không kịp thời biện pháp khắc phục hậu quả; đồng thời cấm việc giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt. Nhưng để áp dụng trách nhiệm đối với bất kỳ cá nhân nào, trước hết phải có kết quả xác minh, chứng cứ và kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, ở thời điểm này, điều cần thiết không phải là đưa ra một kết luận nặng nề về trách nhiệm của bất kỳ cá nhân nào.
Điều cần thiết là kiểm tra lại hiện trạng. Đo đạc từng hạng mục. Đối chiếu với giấy phép. Đối chiếu với quyết định xử phạt. Đối chiếu với nội dung biên bản phúc tra. Và, nếu có sự không thống nhất thì phải giải thích bằng hồ sơ, bằng số liệu và bằng trách nhiệm cụ thể của từng người có liên quan.
Bởi xử lý một công trình vi phạm không thể dừng lại ở việc ra quyết định trên giấy, thu tiền phạt rồi lập một biên bản xác nhận chung chung. Pháp luật chỉ thực sự được thực thi khi kết quả xử lý được thể hiện bằng chính hiện trạng công trình. Còn nếu hiện trạng và hồ sơ không khớp nhau, câu hỏi đặt ra để cơ quan có thẩm quyền trả lời một vấn đề rất đơn giản: phần công trình vi phạm đã thực sự được tháo dỡ đến đâu? Câu trả lời ấy cần được đưa ra bằng một cuộc kiểm tra khách quan, minh bạch và có căn cứ.



Quyết định xử phạt công trình của bà Nguyễn Thị Kim Thư tại lô BT-BT25-3, Khu quy hoạch dân cư số 5, Phường 4 cũ, TP Đà Lạt
Bình luận bài viết